Mario Vargas Llosa: Cuộc đời trong văn bản


 Không chỉ nổi tiếng khắp thế giới là tác giả đoạt giải Nobel Văn học, Vargas Llosa còn nổi tiếng bởi tham vọng tranh cử chức Tổng thống Peru. Ông thất bại trên chính trường, nhưng thành công trong phiêu lưu văn chương. Kinh nghiệm thực tế cho Llosa thấy: Ông nên là nhà văn chiến đấu với văn bản hơn một chính trị gia cánh hữu cực đoan, bảo thủ.

 

Nhà văn Mario Vargas Llosa (Peru)

 Jorge Mario Pedro Vargas Llosa (sinh ngày 28-3-1936) là nhà văn, nhà báo, chính trị gia người Peru, một quốc gia trung bình ở Nam Mỹ. Ông là một trong những cây bút Mỹ Latinh nổi trội trong lĩnh vực tiểu thuyết và tiểu luận, đồng thời là một trong những tác giả hàng đầu thuộc thế hệ mình. Llosa đoạt Giải Jerusalem năm 1995, Giải Hòa bình của ngành kinh doanh sách Đức năm 1996, và Giải Nobel Văn học năm 2010.

 Duyên nợ với anh hùng không hoàn hảo

 Vào thời gian Vargas Llosa đến thăm mộ Roger Casement, một nhà thơ người Ireland, ông rất buồn. “Casement là một anh hùng. Ông ấy không hoàn hảo nhưng đối với tôi, Casement rất con người, khiến tôi cảm nhận sự đồng cảm”.

Roger Casement (1-9-1864 – 3-8-1916) là nhà ngoại giao, nhà hoạt động nhân quyền, đồng thời là nhà thơ Ireland. Ông được mô tả như “cha đẻ của thanh tra nhân quyền”, được phong tước hiệp sĩ nhờ những điều tra quan trọng về vi phạm nhân quyền ở Peru. Tuy nhiên, thành tựu này bị lu mờ bởi Casement nỗ lực tìm kiếm cách hợp tác với Đức, nhằm giành độc lập cho Ireland bằng nổi dậy vũ trang. Cuối cùng, Casement bị hành hình vì tội phản bội.

Tại văn phòng nhà xuất bản ở London, Llosa nói, “Một số người cảm thấy khó chấp nhận điều: anh hùng không phải người hoàn hảo”. Cũng trong nghĩa trang Glasnevin, Dublin, nơi Casement yên nghỉ, Llosa nhìn thấy trước mộ các nhà yêu nước người Ireland bị treo cổ bởi chính quyền Anh có rất nhiều hoa. “Tôi rất buồn vì xung quanh các nhà lãnh đạo cuộc nổi loạn của Ireland luôn có hoa, nhưng trên mộ của Casement lại không có bất cứ bông hoa nào”.

Llosa thăm mộ Casement vì cuốn tiểu thuyết mới của ông, Giấc mơ của người Celt (The Dream of the Celt). Cuốn sách viết về cuộc sống của Roger Casement, được gợi cảm hứng từ nhà văn Uruguay, José Enrique Rodo. “Mỗi người trong chúng ta là, liên tục, không chỉ một mà nhiều. Và những nhân cách kế tiếp, cái xuất hiện từ một phần khác có xu hướng biểu lộ sự kỳ lạ, sự tương phản đáng kinh ngạc nhất”. Những lời văn này của Rodo khiến Llosa bị cuốn hút.

Có nhiều sự tương phản đáng kinh ngạc ở Casement. Giấu giếm đồng tính luyến ái và trở thành cột trụ trong xã hội phản đối đồng tính. Ông cũng là người cố gắng ngăn chặn cuộc nổi loạn của người Ireland vì nghĩ rằng, nếu không có sự hỗ trợ của Đức, cuộc nổi dậy sẽ thất bại. Rõ ràng, Casement tử vì đạo nhưng không được công nhận như một nhân vật tử vì đạo. “Tôi nghĩ ông ấy sẽ không bao giờ được chấp nhận hoàn toàn”, Llosa nói. “Sẽ luôn có một sự chấp nhận miễn cưỡng phức tạp. Nó là sự phức tạp trong bản chất của con người. Chúng ta không hoàn hảo nhưng lại không chấp nhận sự thiếu khuyết ở những người anh hùng”.

Casement là chất liệu lý tưởng cho Llosa. Giữa họ có rất nhiều điểm tương đồng và điểm tương đồng lớn nhất: bị Ireland bỏ rơi, được Peru đón nhận. Giống như Casement, Llosa là con người của phiêu lưu, du lịch, đa ngôn ngữ, nhà văn tường thuật hiện thực, không ngại tấn công các nhà lãnh đạo chính trị ở nước ngoài. Và giống như Casement, Llosa là tập hợp của những mớ lộn xộn các nghịch lý.

 Con người của những nghịch lý

 Bình thường, Llosa là người đàn ông ngọt ngào đến mức lố bịch. Ông diện đồ thể thao nỉ ngắn, cánh tay vuốt tóc một cách điệu đà và dáng vẻ khá quyến rũ. Nhưng Llosa cũng là người đấm vào mặt Gabriel García Márquez (nhà văn Colombia đoạt giải Nobel Văn học năm 1982), đối thủ của mình, vì sợ bị giật danh hiệu nhà văn vĩ đại nhất Mỹ Latinh. (Năm 1976, bên ngoài một rạp chiếu phim ở Mexico City, không hiểu vì lý do gì Llosa đấm Márquez, dẫn đến mối hiềm thù không một lần được giải tỏa trong đời Márquez).

Trong trò chuyện, Llose là người nghiêm túc và đứng đắn. Nhưng trong tác phẩm, ông viết những trang tình dục nóng bỏng, từng bị khiển trách nặng nề và phải chịu trách nhiệm vì viết khiêu dâm.

Giống như Casement, Llosa quay sang chính trị ở tuổi trung niên và vướng phải những hậu quả nghiêm trọng. Ông vẫn nhăn mặt mỗi khi nghe đề cập đến việc ứng cử năm 1990. (Năm 1990, nhà văn Mario Vargas Llosa từng ra ứng cử chức Tổng thống Peru, song bị thất bại trước đối thủ Alberto Fujimori). Nhưng khác với Casement, Llosa hối hận vì sai lầm đó.

“Tôi có phải một kẻ cuồng tín không?”, Llosa tự hỏi bản thân. Casement vẫn còn một phần xa lạ đối với ông. Cả hai đều tin có thể tạo ra thời đại hoàng kim, là nhà độc tài mê muội và nghệ sĩ duy tâm. Mang những tính cách phức tạp như vậy, không thể trách họ đều khó hiểu và đáng yêu như nhau. Đối với tất cả những thiếu khuyết trong Giấc mơ của người Celt như đối thoại nặng nề, lặp, ít cao trào, nó vẫn là tác phẩm anh hùng cuốn hút nhất trong sự nghiệp văn chương của Vargas Llosa.

Bàn về vấn đề đồng tính luyến ái của Casement, Llosa nói, “Tất cả lời khai là của một người rất lịch sự, vô cùng nhút nhát, đỏ mặt khi nghe bốn âm tiết này (homoerotism). Vì vậy, đọc Nhật ký đen (Black Diaries) của Casement là một cú sốc. Văn bản thô bỉ và lời lẽ tục tĩu”. Có thể Nhật ký đen sau này bị tình báo Anh bôi bác để ngăn chặn đơn kháng cáo xin khoan hồng.

“Ấn tượng ban đầu của tôi là chúng xác thực. Casement thật sự có viết Nhật ký đen, nhưng tôi không nghĩ ông ấy sống như những kinh nghiệm được mô tả”, Llosa nói. Vì cuốn nhật ký này được phát hiện tại Scotland nên ông còn vướng mắc nhiều nghi vấn. “Tôi nghĩ rằng không thể hoàn toàn biết một cách rõ ràng được”.

Sự lập lờ này về Casement thu hút Llosa. “Nó không phải một cái gì đó xấu mà là sự bất ổn treo trên đầu Roger Casement, giống như bằng chứng của việc không thể hiểu ngọn ngành một ai đó, một tổng thể thông qua mạng lưới lý thuyết và ý chí cố gắng nắm bắt”, Llosa viết trong lời bạt Giấc mơ của người Celt.

Llosa tuân thủ sự xác tín trong nhiều tiểu thuyết. Ông thường viết về những nhân vật lịch sử có thật. “Tôi có quyền tự do”, Llosa cười. “Với tiểu thuyết, bạn không bị giới hạn bởi sự kiện thực tế. Bạn có thể thao túng thực tế, sáng tạo thực tế, bất trung thành với bản chất lịch sử. Tôi nghĩ chúng ta có thể hình dung bức tranh chính xác hơn nhiều về những gì xảy ra trong cuộc chiến tranh Napoleon ở Nga từ Tolstoy hơn là đọc lịch sử”.

Năm 2010, khi Vargas Llosa được trao giải Nobel Văn học, Viện hàn lâm Thụy Điển ca ngợi ông là “bản đồ của cấu trúc quyền lực và hình ảnh sắc bén về các cá nhân phản kháng, nổi dậy, và thất bại”. Đánh giá này vẫn có thể áp dụng với Giấc mơ của người Celt, cũng như đã dành cho thiên sử thi Cuộc chiến tranh Cuối cùng của Thế giới (The War of the End of the World) năm 1984.

 Cuộc chiến tranh Cuối cùng của Thế giới dựa trên bối cảnh các sự kiện tại Bahia, Brazil cuối Thế kỷ XIX, tập trung vào nhà thuyết giảng lôi cuốn Antonio Conselheiro. Conselheiro kêu gọi xây dựng một thành phố mới, thách thức chính phủ quốc gia tiêu diệt ông và lý tưởng không tưởng của ông.

Llosa bị cuốn hút bởi các nhân vật lịch sử cuồng tín mâu thuẫn với xã hội. Trong Cách tới thiên đường (The Way to Paradise) xuất bản năm 2003, ông mê đắm Paul Gauguin, danh họa hàng đầu của trào lưu hậu ấn tượng Pháp. “Gauguin tin nghệ thuật tuyệt vời cần kẻ man rợ”, Llosa nói. “Có quá nhiều nền văn minh là sự kết thúc của nghệ thuật vĩ đại… nghệ thuật đen được phát hiện sau Gauguin và nhờ Gauguin. Gauguin là người đầu tiên có ý tưởng tìm kiếm tính nguyên thủy của nền văn hóa. Sức mạnh của sáng tạo là ở đấy. Văn minh lý tính hoàn toàn giết chết tinh thần sáng tạo”.

“Casement cũng tương tự như vậy. Ông ấy đã nói ‘… Những người này không phải man rợ. Chúng ta đang phạm tội khi chống lại họ chỉ vì họ nghèo và không mạnh bằng chúng ta’. Đó thật sự là ý tưởng mang tính cách mạng tại thời điểm đó”.

Llosa biết đến Casement không phải từ kết nối với Peru mà từ một cuốn tiểu sử của Joseph Conra, nhà văn Ba Lan. “Conra có một ý tưởng rất ngây thơ rằng, thực dân đem đến sự hiện đại, Kito giáo và thương mại cho con người man rợ. Casement là công cụ cho Conra có ý tưởng thực tế hơn về những gì đang xảy ra. Họ trở thành những người bạn thân thiết. Có bức thư Conra gửi cho Casement nhắc nhở ông ấy đừng bao giờ viết Nhật ký đen. Vì thế, tôi bắt đầu hiếu kỳ, tự hỏi Casement là ai, và tiến hành điều tra”.

 

Cuộc sống như phiêu lưu

 Nhiều nhà phê bình cho rằng Giấc mơ của người Celt bị quá tải bởi thành quả điều tra suốt ba năm của Llosa. Tuy nhiên, thành công đầu tiên của tác giả không phải từ tài liệu tiểu sử của người khác. Năm 1963, ở tuổi 27, Llosa giành giải thưởng văn học Premio Biblioteca Breve và Premio de la Crítica Espanola (hai giải thưởng văn học tiếng Tây Ban Nha) với tiểu thuyết đầu tay Thời của Anh hùng (The Time of Hero). Câu chuyện lấy một trường quân sự của người Peru làm bối cảnh, phác họa kinh nghiệm của tác giả tại Học viện Quân sự Leoncio Prado, Lima, nơi Llosa được cha gửi vào từ năm 14 tuổi.

Vai diễn của một đấng trượng phu bị bắt nạt tại trường, trong câu chuyện, khiến nhiều tướng lĩnh Peru ghét bỏ. Tác phẩm bị xếp vào loại “thoái hóa tâm hồn”, hủy hoại uy tín quân đội. Một ngàn bản sao cuốn sách bị đốt cháy tại học viện.

Sau đó, Llosa làm việc như một nhà báo phạm tội, nghiên cứu ở Lima và Madrid. Cuối cùng, ông làm mọi cách từ bỏ nghề báo, đấu tranh viết tiểu thuyết. “Tôi quyết định sẽ cố gắng trở thành một nhà văn và dâng hiến thời gian, năng lượng cho viết. Tôi nhất định sống sót với công việc ngoài lề này. Đó là thời điểm cực kỳ quan trọng trong đời sống của tôi”, Llosa nói với một người phỏng vấn.

Llosa cũng kết hôn với người có quan hệ họ hàng và lớn hơn 10 tuổi. Năm 1955, ở tuổi 19, Llosa chạy trốn cùng mợ Julia Urquidi, vợ của cậu ruột. Tám năm hôn nhân của họ cung cấp tài liệu cho cuốn tiểu thuyết nối tiếng, Mợ Julia và Nhà biên kịch (Aunt Julia and the Scriptwriter, 1977). Đó là tiểu thuyết đồ họa về một học sinh ôm tham vọng trở thành nhà văn, rơi vào tình yêu với vợ của cậu ruột. Ông đề trên cuốn sách, “Gửi Julia Urquidi Illanes, người mà cuốn sách này và tôi nợ rất nhiều”.

William Boyd, đạo diễn chuyển thể Mợ Julia và Nhà biên kịch thành phim điện ảnh, viết: “Vargas Llosa liên tục thiết lập các hình ảnh tình dục và quan hệ tình cảm giữa nam và nữ”. Trong Căn nhà Màu xanh (The Green House, 1966), ông còn viết về một nhà thổ giữa rừng, nơi cậu bé Llosa vô tình phát hiện khi còn là thiếu sinh quân, cảm nhận nó như “tổ chức trung tâm trong đời sống Mỹ Latinh”. Cả hai tác phẩm chìm ngập sự ngưỡng mộ của Llosa với kỹ thuật viết của Jean-Paul Sartre (Pháp), Gustave Flaubert (Pháp) và William Faulkner (Mỹ).

Tại sao Llosa không bao giờ trở thành một nhà văn hiện thực xã hội? “Bởi vì chủ nghĩa hiện thực xã hội phải cạnh tranh với xã hội học và lịch sử”, ông trả lời. “Tôi nghĩ rằng văn học phải được tự do hơn trong việc mô tả thế giới và kinh nghiệm thực tế. Tôi không nghĩ bạn có thể loại bỏ các chiều kích tưởng tượng trong thế giới thực, cái đóng vai trò quan trọng trong lịch sử. Và tôi nghĩ rằng, thông qua văn học, bạn có thể đạt được chiều kích này trong đặc trưng của một giai đoạn lịch sử tốt hơn bất kỳ cách nào khác”.

Cùng với những tác phẩm này cũng như Đối thoại trong Nhà thờ (Conversation in the Cathedral, 1969) và Đội trưởng Pantoja và Các điệp vụ Đặc biệt (Captain Pantoja and the Special Service, 1973), Llosa gia nhập phong trào văn học đặc thù của những năm 1960 và đầu những năm 1970, Bùng nổ Mỹ Latinh (Latin American Boom). Trào lưu này bao gồm những tên tuổi nổi tiếng như Gabriel García Márquez, Carlos Fuentes, Julio Cortázar. Tất cả họ thống nhất cam kết thử nghiệm văn học và cam kết chính trị hiếm hoi giữa những người đương thời ở châu Âu hoặc Mỹ. Nhưng sự đồng nhất này có vẻ được phóng đại. Trong thực tế, nếu các thành viên cốt cán của phong trào (bao gồm các nhà văn lớn tuổi như Pablo Neruda và Jorge Luis Borges) chia sẻ bất cứ điều gì chung, nó chủ yếu là cách thúc đẩy tiêu thụ sách, “bán nhờ xuất bản châu Âu và Mỹ trong những năm 1960”.

 

Thảm bại trên chính trường

 Năm 1990, Llosa tìm được cách thể hiện cam kết chính trị trong thứ khác hư cấu. Ông ứng cử chức Tổng thống Peru cùng phe liên minh trung hữu Frente Democrático, ủng hộ cải cách tân tự do. Llosa thất bại trước Alberto Fujimori, công dân Peru gốc Nhật Bản. Fujimori sử dụng các trang viết vô tư về tình dục của Llosa làm “gậy ông đập lưng ông”.

Vì đâu mà chàng trai trẻ Llosa vốn say mê Fidel Castro, trở thành nhân vật chính trị của cánh hữu, phe đặc trưng bởi sự bảo thủ và chấp nhận bất bình đẳng xã hội? Salman Rushdie (Ấn Độ) phát hiện Llosa trôi dạt sang cánh hữu từ đầu năm 1984. Điều này thể hiện trong cuốn tiểu thuyết Con người thật của Alejandro Mayta (The Real Life of Alejandro Mayta, 1984). Tác phẩm này công khai chiều hướng chính trị của Llosa. Tuy nhiên, trên thực tế, Llosa nghiêng hữu từ rất lâu trước đó. Năm 1971, ông hết nhiệt tình với cách mạng Cuba, chế giễu García Márquez là “điếm của Castro”.

Sau khi bị đánh bại trên trường chính trị, Llosa liếm vết thương trong in ấn công cộng. Truyện trinh thám Cái chết ở Andes (Death in the Andes, 1993), thiết lập Peru trong bối cảnh đi theo con đường Mao-ít những năm 1980 – 1990, cất tiếng tru thê thiết của sự thất vọng. Cuốn hồi ký cùng năm, Cá trong Nước (A Fish in the Water) là những gì mà các nhà phê bình gọi là “sử thi cằn nhằn”. Nó tập trung vào chiến dịch tranh cử thất bại của Llosa. Phức tạp hơn nữa là Ngày lễ của Dê (The Feast of the Goat, 2000), nói về chế độ độc tài của Rafael Trujillo ở Cộng hòa Dominic trong những năm 1930 – 1961. Các nhà phê bình cũng phát hiện sự tương đồng giữa Llosa và Trujillo trong cách đối xử với kẻ thù.

Tờ Times Literary Supplement lập luận tiểu thuyết của Llosa “sừng sững như biểu tượng tiểu thuyết vĩ đại của Mỹ Latinh Thế kỷ XX và tước đi danh hiệu đó của Trăm năm cô đơn. Llosa sẽ cực kỳ thích lời ngợi ca này nếu đọc được. Tranh chấp giữa hai nhà văn vào năm 1976 trước rạp chiếu phim ở Mexico City chưa bao giờ được làm rõ. Có thể vì Márquez đã làm gì đó với vợ thứ hai của Llosa, Patricia, mẹ ba đứa con của ông ở Peru. Bất kể sự việc thế nào, hai đại văn hào không nói chuyện với nhau suốt hơn 30 năm.

Tôi hỏi Llosa nghĩ gì về việc Giấc mơ của người Celt có nhiều đoạn tương ứng với cuộc đời chính trị của ông? Tôi thắc mắc vấn đề này vì đọc được cách xử lý chính trị bất phù hợp của Casement trong cuốn sách. Sau tất cả, Casement bị bẫy vào lưới tình của một tình báo người Na Uy làm việc cho Anh. Casement cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của Đức, đế quốc cố gắng giết chết hàng chục ngàn binh sĩ Ireland chiến đấu cho Vương quốc Anh. Có phải Llosa cũng ngây thơ về mặt chính trị?

“Vâng, hoàn toàn đồng ý”, Llosa trả lời. “Tôi học được từ kinh nghiệm thực tế rằng tôi là nhà văn chứ không phải chính trị gia. Một phần của lý do tôi sống như thế là vì tôi muốn phiêu lưu mạo hiểm. Nhưng cuộc phiêu lưu của tôi tốt hơn nên ở văn học thay vì chính trị”.

“Ông muốn được giới thiệu là nhà văn phiêu lưu chiến thắng giải Nobel Văn học ư”, tôi hỏi Llosa. Ông cười, “Giải Nobel là câu chuyện cổ tích trong một tuần, và cơn ác mộng suốt một năm. Bạn không thể tưởng tượng nổi áp lực của các cuộc phỏng vấn, lời mời đến hội chợ. Năm đầu tiên sau khi đoạt Nobel, viết là một việc vô cùng khó khăn…”. Tất nhiên, bây giờ Llosa vẫn tiếp tục viết. Sau chuyến phiêu lưu ở Ireland, nhà văn đa ngôn ngữ này sống cả ở Lima và Madrid, cũng từng trải qua thời gian ở Paris và London, cuối cùng trở về nhà, dựng bối cảnh cho cuốn sách mới của ông giữa Peru hiện đại.

Tôi hỏi câu cuối cùng. Tranh chấp giữa Llosa và García Márquez là vì Patricia hay Castro? Ông vờ như không nghe thấy, và trả lời bằng những lời lẽ trong Giấc mơ của người Celt: Nó không thể bị vạch trần hoàn toàn bởi người khác, và nó cũng có thể được thêm thắt. Chúng ta vẫn chưa biết lý do tại sao hai nhà văn Nobel tương lai tại thời điểm đó lại đánh nhau.

Vũ Thị Huế (Theo Theguardian.com)

Nguốn: Báo Văn nghệ số 14/2015)

Nguồn: http://vanvn.net/news/22/5649-mario-vargas-llosa--cuoc-doi-trong-van-ban.html

Người gửi: viebooks.com Ngày: 12/11/2015 246 1 0
Bạn đã bình luận quá số kí tự.